Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

XƯỚNG HỌA CÙNG BẠN TRÊN BLOG


         Hôm trước, Song Thu sang thăm trang blog của bạn Lý Đức Quỳnh, thấy bạn bè xướng họa một kiểu thơ: Thủ nhất thanh, liên hoàn. Thực tình, Song Thu chưa nghe đến kiểu thơ này bao giờ nên lạ lẫm lắm. Nhưng bản tính tò mò thích trải nghiệm nên có ý định họa thử cho vui. Loay hoay, gò vần ghép chữ mãi, cuối cùng cũng ra được một bài giống với kiểu thơ này. Hôm nay, Song Thu xin trình làng đây ạ:



NHỚ
(Thủ nhất thanh-liên hoàn)

Nhớ ngày hè hội lúc ra giêng
Nhớ thuở yên bình thật đạm nhiên
Nhớ nước non tình chan bốn biển
Nhớ làng xóm nghĩa vẹn trăm miền
Nhớ cần lao sống lòng vô hận
Nhớ lạc quan đời trí mãn viên
Nhớ ánh dương huy ngời khoáng đãng
Nhớ đêm trăng vút tiếng tiêu huyền

Nhớ đêm trăng vút tiếng tiêu huyền
Nhớ gió giao hòa ngự lãm viên
Nhớ mẹ gieo mầm lên nguyện địa
Nhớ cha gặt quả ở an miền
Nhớ dòng nước chảy về êm ái
Nhớ nhịp đời trôi đến thản nhiên
Nhớ buổi quê xuân màu rất lạ
Nhớ cành lộc mới trổ trời giêng…


                       Lý Đức Quỳnh


YÊU

(Tập họa bài thơ của Lý Đức Quỳnh, theo kiểu thơ trên)

Yêu gốc đào già nở tháng giêng
Yêu cây vạn tuế đứng an nhiên
Yêu con chim khách chào đầu ngõ
Yêu chú sơn ca hót mọi miền
Yêu bác nghệ nhân bên chậu cảnh
Yêu người lao động chốn điền viên
Yêu cô thôn nữ cười trong nắng
Yêu tiếng đàn buông khúc diệu huyền

Yêu tiếng đàn buông khúc diệu huyền
Yêu hoàng hôn tím đến hồn nhiên
Yêu cây phượng đỏ nơi hoàng phố
Yêu ngọn gió nồm chốn cẩm viên
Yêu khúc hoan ca hòa bốn biển
Yêu lời nhân ái đọng muôn miền
Yêu tùng, yêu trúc, yêu mai, cúc
Yêu vạn chồi non nảy cuối giêng


26-02-2016
Song Thu

Chủ Nhật, 21 tháng 2, 2016

TUÂN THU XƯỚNG HỌA


Mấy hôm trước, tình cờ tìm lại được một cặp bài xướng họa, nhân dịp đầu xuân, Song Thu đưa lên đây mời bạn bè blog đọc cho vui

MỜI MẮC ÓNG
Mảnh vườn nhà tớ chửa cần cày
Mềm mại đất màu lại tốt cây
Đủ nước ngô xanh đôi bắp mẩy
No mùn bí đỏ quả đeo dây
Rau non đang lứa chờ tay hái
Mướp mới leo dàn ngại gió lay
Chờ tớ thu xong mời mắc óng
Cày cùn trâu yếu đuổi đi ngay
  Song Thu
 

TỚ CỨ CÀY
( Bài họa đảo vận)
Trâu yếu cày cùn chớ đuổi ngay
Răng còn vài chiếc chửa lung lay
Khò khè chưa hẳn tim thôi đập
Lẻo khẻo dưng mà eo vẫn dây
Nhập thế văn chương chừng mấy độ
Tu hành tích trượng vẫn còn cây
Xa chùa xa chợ ai can thiệp
Ai cản mặc ai tớ cứ cày

Đỗ Đình Tuân

Chủ Nhật, 14 tháng 2, 2016

MÓN QUÀ BẤT NGỜ VÀ NHỮNG LO LẮNG BÂNG QUƠ



   


   
         Vợ chồng Tuân Thu cứ sống bình thường, tự nhiên thôi nhưng xóm giềng, bầu bạn, con cháu và học trò thân yêu thì lại luôn cho rằng: “ đó là một cặp đôi hoàn hảo” hoặc  “một cặp đôi đầm ấm,lãng mạn và tình cảm tuyệt vời”.Thế mới lạ chứ.
        Thực tình thì cái cặp đôi này cũng nhiều lúc tức nhau ra trò đấy. Chả là vợ thì hay nhõng nhẽo, thích tình cảm, ngọt ngào nhưng chồng thì cứ khô như ngói ấy. Vợ làm nũng cũng chẳng biết nâng niu, hờn dỗi cũng chẳng biết dỗ dành. Ế dỗi mãi thành ra quen đi thèm vào hờn dỗi nữa. Thế đã xong đâu. Ai đời ngày phụ nữ quốc tế hay phụ nữ Việt Nam gì gì đó chồng cũng chẳng thèm tặng quà vợ bao giờ. Thỉnh thoảng hứng lên chỉ làm một bài thơ chúc mừng thôi. Khi vợ đòi quà thì lại bảo :  “Đó là ngày chung của phụ nữ chứ không phải ngày riêng của chúng mình. Anh chỉ tặng em nhân dịp sinh nhật, kỉ niệm ngày yêu hoặc ngày cưới thôi”. Lại quen đi vợ đành chấp nhận như thế tuy nhiều lúc cũng thấy tưng tức lạ.
       Thế mà sáng hôm nay, khi vợ còn đang ngủ, chồng đã đánh thức và bảo rằng “ Dậy nhận quà đi em” Mắt nhắm mắt mở, vợ hỏi trong tiếng ngáp “ Quà gì vậy anh? Ai tặng mà sớm thế?”. Chồng bảo: “ Anh tặng chứ còn ai!” Vợ tròn mắt: “Anh tặng? Mà nhân dịp gì vậy?” Chồng chùng giọng đầy âu yếm: “ Anh tặng em nhân lễ valentin” rồi trao tận tay vợ một hộp hình chữ nhật thật đẹp đẽ xinh xắn . Vợ cứ ngớ người ra rồi lại rưng rưng cảm động và sung sướng đến run cả người lên mãi mới nói được câu” Cám ơn chồng. Em cám ơn chồng”. Hết ngơ ngác vì được tặng quà bất ngờ lại ngơ ngác vì không biết là quà gì mà lạ thế, khi nhìn thấy, trên mặt gói quà nhỏ xinh đó  có hình ảnh tờ 500 EURO, lật mặt sau, lại thấy toàn tiếng nước ngoài với hình ảnh những đồng ngoại tệ mạnh. Chẳng biết là thứ gì cứ lóng nga lóng ngóng bóc ra xem cho rõ sự tình. Té ra đó là một thanh sô cô la trắng! Ôi trời, ngày lễ tình yêu và thanh sô cô la trắng, với tuổi trẻ hiện nay là quá bình thường nhưng với độ tuổi U70và U80 như vợ chồng Tuân Thu thì quả là một sự lạ hiếm có ? Vì ở độ tuổi này có ai để ý tới cái ngày ấy và thứ quà ấy bao giờ. Nhất là với một người quê một cục như Song Thu thì càng thấy lạ lùng lắm lắm !
        Bởi vậy, nhận quà xong cứ thần người ra mà nghĩ lung tung. Phần thì lo lắng : Quái tự dưng sao năm nay chồng mình lạ thế ? Nhỡ ra đó là điềm gở báo hiệu sự thay đổi trong sức khỏe của chồng thì chí nguy chứ chẳng chơi. Năm nay chàng cũng sang tuổi 75 rồi còn gì. Lo lắng và hoảng sợ lắm ! Nhưng lại cố xua đuổi cái ý nghĩ khủng khiếp ấy đi. Không ! Không thể như thế được ! Chàng còn khỏe mạnh, minh mẫn lắm ! Thế rồi lại nghĩ : Hay là vừa qua mình đi trông cháu xa chàng ở nhà làm điều gì đó có lỗi nên tặng quà đây. Cái ý nghĩ này không làm mình hoảng hốt lo lắng như ý nghĩ trước nhưng cũng sôi sôi trong đầu trong dạ một chút gì khó chịu như hờn ghen tức tối vô cớ vậy. Nhưng rồi cũng kịp tỉnh ra và nói với lòng rằng : Đừng có nghi ngờ chàng mà tội nghiệp. Bao nhiêu năm chung sống, chàng luôn là một người chồng mực thước, thủy chung, yêu thương và trân trọng vợ mà.

      Bụng bảo dạ vậy thôi chứ vẫn thấy bất an và khó hiểu sao sao ấy nhưng lại chẳng dám hỏi chồng vì sợ làm tổn thương chàng thì gay. Cho nên mới viết cái suy nghĩ phức tạp của mình lên đây mong bạn bè blog lý giải giùm . Người ngoài cuộc bao giờ cũng sáng suốt hơn mà
                                                                                                                 14-02-2016
                                                                                                                   Song Thu

Thứ Năm, 11 tháng 2, 2016

KHAI BÚT



Xuân về xin chúc bác Ngôi nha
Cót nọ bồ kia thật đẫy đà
Nay Bắc mai Nam không mỏi gối
Chẳng quên chăm bón gốc Sâm nhà
Khà...khà...khà...




               11-02-2016
                Song Thu

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

HỊCH KHOA HỌC CÔNG NGHỆ




Vì bận trông cháu cho các con đi làm nên Song Thu chẳng viết bài chi được. Lang thang trên mạng, thấy bài hịch thời mới,( nương theo HỊCH TƯỚNG SĨ của Trần Quốc Tuấn), Song Thu mang về đây mời mọi người xem tạm vậy!
 
Ta cùng các ngươi
Sinh ra phải thời bao cấp
Lớn lên gặp buổi thị trường.
Trông thấy:
Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người
Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.
Thật khác nào:
Đem cổ tích mà biến thành hiện thực
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!
Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ ngang Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.
Các ngươi ở cùng ta,
Học vị đã cao, học hàm không thấp
Ăn thì chọn cá nước, chim trời
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa
Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.
Thật là so với:
Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,
Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,
Ta nào có kém gì?
Thế mà, nay các ngươi:
Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn
Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng
Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích
Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật
Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.
Cho nên:
“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua
“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu
Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản
Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm?
Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ?
Thật là:
“Dân gần trăm triệu ai người lớn
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!
Nay nước ta:
Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!
Chỉ e:
Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài
Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.
Hỡi ôi,
Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.
Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại
Mà lo học tập chuyên môn
Mà lo luyện rèn nhân cách
Xê mi na khách đến như mưa
Vào thư viện người đông như hội
Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chắc cả trung đoàn
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu cũng dăm đại đội
Được thế thì:
Kiếm giải “Phiu” cũng chẳng khó gì
Đoạt Nô ben không là chuyện lạ
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược
Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.
Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.
Vì:
Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?
Cho nên mới thảo hịch này
Xa gần nghiên cứu
Trên dưới đều theo!

T/g: Phạm Xuân Cần
Song Thu sưu tầm, nguồn Facebook

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

VĂN TẾ CỤ RÙA

 


Trong xóm tri ân cuộc đời của chúng tôi có một chàng Đại tá nguyên lính tăng từ thời chống Mỹ nay đã nghỉ hưu. Chàng từng có nhiều tác phẩm được đăng tải nhiều nơi và tái bản nhiều lần như: bộ tiểu thuyết  "Bão thép" bốn tập rất dày dặn , cuốn kí sự " Hành trình đến dinh độc lập", tập truyện kí " Chuyện bạn bè tôi" ...Ngoài ra chàng thỉnh thoảng cũng làm thơ tuy nhiên thơ của chàng chưa xuất sắc lắm. Vừa rồi, nhân sự kiện CỤ RÙA HỒ GƯƠM từ trần, chàng lại nổi hứng viết một bài văn tế khá hoàn hảo. Tôi thích bài văn tế này bén xin về trang nhà để khoe cùng bạn bè blog đây: 

 

Nhớ cụ xưa.
Sinh tại dân gian
Sống trong truyền thuyết
Hun từ Linh khí Trời Nam
Đúc bởi Hồn thiêng Đất Việt
Thần Kim Quy dân chúng ngợi ca
Đức Hộ Quốc vua quan trọng vọng
Bởi vì
Ngay từ ngày lập quốc đã dạy An Dương Vương xây vững Cổ Loa
Thuở mới dựng cơ đồ nghiến răng rút móng mình để làm lãy nỏ
Bao phen địch đánh, mấy vòng thành vẫn vững tựa non
Lắm trận thù sang, nỏ liên châu địch chết như ngả rạ
Vì trái tim lạc chỗ, nàng Mỵ Châu nhận giặc làm chồng
Chỉ một chút lơ là, An Dương Vương chọn nhầm con rể
Thế cho nên cả cha con đành phải mạng vong
Cũng vì vậy mà đất nước rơi vào tay giặc.
Than ôi!
Đã tưởng Thần Kim Quy giận dỗi bỏ đi
Nào ngờ Đức Hộ Quốc vẫn còn ngoảnh lại
Thuở quân Minh bạo ngược gươm tuốt trần muốn tận diệt dân ta
Ngày giặc Bắc tham tàn đốt hết sách hòng một mai giống Việt
Mượn tay người đánh cá, trao gươm thần nghĩa sĩ họ Lê
Bày kế chạy lạc đường, treo vỏ kiếm ngọn cây Trời Thuận*
Để rồi
Mười năm nếm mật nằm gai
Một buổi Bình Ngô Đại Cáo
Đất nước bình yên, hồ Lục Thúy vua dạo thuyền rồng
Nhân dân an lạc, thành Đông Quan đông vui như hội
Chắc bởi mong đất nước này sẽ hết chiến chinh
Nên bất chợt Kim Quy hiện lên đòi Hoàn Kiếm
Từ đó
Đáy Hồ Gươm Cụ nhàn tản qua ngày
Nước Lục Thúy Cụ tĩnh tâm ẩn dật
Dịp trọng đại Cụ lên phấn khởi chia vui
Lúc khẩn nguy Cụ nổi như lời cảnh báo
Cứ tưởng rồi Cụ sẽ mãi mãi trường tồn tại xứ sở Việt Nam
Nào ngờ hôm qua nghe tin Cụ đột ngột ra đi về miền tiên giới
Cụ ra đi bao nhiêu người ngơ ngẩn tiếc thương
Khi đất nước đang bước vào những ngày trọng đại
Khiến cho bao câu hỏi đặt ra
Nhưng chắc chẳng có lời đáp trả
Hỡi ôi!
Chẳng lẽ Cụ như Khuất Nguyên không chịu sống giữa bùn nhơ
Nên quyết định quyên sinh để giữ mãi tấm lòng trong sạch
Hay bởi
Cảnh báo rồi, chớ bao giờ lẫn lộn bạn- thù mà chúng chẳng nghe
Nên Cụ chán, quyết một lòng về nơi tiên cảnh vui cùng con cháu
Hoặc giả
Khuyên bảo rồi, muốn nước mạnh phải tích cực đổi mới canh tân
Nhưng chúng sợ, giữ ổn định để chắc chân tham quyền cố vị
...
Nhưng thôi!
Dù bởi bất cứ lý do gì thì Cụ cũng đã ra đi
Dẫu chẳng tìm được nguyên nhân vẫn xin dành ngàn lời thương tiếc
Chúc Cụ dù nằm đâu cũng sẽ mồ yên
Mong Cụ trong tủ kính vẫn là mả đẹp
Tin rằng
Một mai vận nước sẽ lên
Đất Trời mỗi ngày lại sáng
Rồi có ngày đất nước độc lập, dân chủ, phồn vinh
Sẽ đến lúc nhân dân tự do, ấm no, hạnh phúc
Nước Hồ Gươm trong trẻo in sắc thắm trời xanh
Đất Hà Nội bình yên lại thấy Cụ về chứng kiến!

Ô hô!
Ai tai!
Thượng hưởng!


     


                            Nguyễn Khắc Nguyệt


                            ( Song Thu sưu tầm)


Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

TỪ GIAI THOẠI VĂN HỌC ĐẾN TRUYỆN VUI NGUYỄN ĐOÀN



          
   
     

 Hôm vừa rồi, bác Nguyễn Đoàn, bạn đồng môn của ông xã tôi gửi tặng gia đình cuốn truyện vui với cái nhan đề khá ngộ nghĩnh: “ Chuyện nghe lỏm từ lũ chuột nhắt”. Thấy là lạ, tôi liền đọc ngay. Cũng nghĩ là để giải trí , cười xòa cho vui sau nhiều ngày vùi đầu vào công việc gia đình và những cuốn tiểu thuyết. Nhưng càng đọc càng thấy cuốn hút bởi chất triết lý nhẹ nhàng mà sâu sắc toát ra từ những câu chuyện rất ngắn gọn này.Tập truyện được xuất bản năm 2015, dày 273 trang , khổ 13,5 x 20,5 gồm 73 truyện ( có lẽ là để kỉ niệm đúng năm tác giả 73 tuổi chăng?) Ở đây tôi không có tham vọng giới thiệu về toàn bộ cuốn truyện mà chỉ nói lên vài cảm nhận của mình khi đọc một truyện có gắn với giai thoại văn học, truyện: “Nhãn quan sứ thần”
           Truyện có kết cấu khá đơn giản bằng một cuộc trò chuyện giữa nhà nghiên cứu văn học với một vài người bạn, nơi bàn nhậu. Khi nhà nghiên cứu  hỏi các bạn: “ có ai biết giai thoại văn học về Trạng Quỳnh và Đoàn Thị Điểm tiếp sứ thần nhà Thanh không” thì mọi người nói rằng: “ chuyện đó các học sinh phổ thông đều biết sao chúng tôi lại không biết. Ông coi thường chúng tôi quá đấy”. Nhà nghiên cứu vẫn thủng thẳng:” ai biết tường tận thì kể đi. Nếu kể sai sẽ phải trả tiền bữa nhậu này”. Thế là một người kể
 “Vào thời vua Lê chúa Trịnh, được tin Sứ Bộ nhà Thanh toàn những người hay chữ, sắp sang nước ta, Trạng Quỳnh bèn dựng một ngôi quán nhỏ bên bờ sông Cái để cho bà Đoàn Thị Điểm ra đó ngồi bán hàng, còn ông cũng chờ ở đấy, đón chở đò cho Sứ Bộ qua sông. Đoàn sứ nhà Thanh đến, qua quán bà Điểm, thấy cô hàng nước xinh đẹp, liền thả lời bỡn cợt; “ Nam bang nhất thốn thổ bất tri kỷ nhân canh!” (Một tấc đất nước Nam không biết bao nhiêu người cày). Ý nói trêu cô hàng nước lẳng lơ. Bà Điểm đáp lại luôn: “Bắc triều chư đại phu giai do thử đồ xuất” (Những quan to ông lớn ở phương Bắc đều từ chỗ ấy mà chui ra cả). Đến lúc xuống đò, Trạng Quỳnh cầm sào đợi sẵn. Đò ra giữa sông một người trong đoàn Sứ Bộ hổng ruột, lỡ xổng ra một tiếng “bùm”, bèn đọc một câu chữa thẹn: “Lôi động Nam bang” (Sấm động nước Nam). Trạng Quỳnh đang cầm chèo, liền đứng vạch quần đái vòng cầu câu xuống nước và nói: “Vũ qua Bắc hải” (Mưa qua bể Bắc). gặp những chuyện trên ở bên sông Cái, đoàn Sứ Bộ nhà Thanh giật mình khiếp sợ nước Nam, nghĩ rằng chỉ cô bán nước, chàng lái đò mà tài học đến thế thì đất nước này số lượng người tài và mức độ tài nhiều đén thế nào!”

        Nghe kể xong nhà nghiên cứu phán: “ Ông mới kể đúng nửa trên còn nửa dưới thì sai toét. Nửa dưới ông kể là gặp sự đối đáp ấy, Sứ bộ nhà Thanh giật mình khiếp sợ vì nghĩ rằng chỉ cô hàng nước và gã lái đò mà tài giỏi đến nhường này thì số lượng nhân tài và mức độ tài năng của người Nam còn đến thế nào ư? Các ông phải hiểu ràng những Sứ thần nhà Thanh đều là quan to của Triều đình, học vị của họ là học vị thật, chứ không phải là học vị mua, học vị rởm, nên kiến thức của họ đầy mình, nhãn quan của họ không thiển cận đến mức như ông kể đâu. Gặp chuyện trên họ đâu có khiếp sợ, mà cười soẹt cái, nói với nhau: Nhân tài là nguyên khí quốc gia. Một đất nước có những người tài như thế này mà không được triều đình sử dụng, đành phải ra bán nước chè chén và chèo đò để kiếm sống qua ngày thì vua Lê chúa Trịnh thiển cận, thậm thiển cận, e rằng nước Nam này đang mạt vận rồi”.

Có thể nói chỉ mượn lời “ nhà nghiên cứu” để thay đổi một cái kết của giai thoại văn học thôi, tác giả Nguyễn Đoàn đã đem đến một cách nhìn nhận mới về sự việc Trạng Quỳnh và Đoàn Thị Điểm tiếp Sứ thần nhà Thanh. Với cái kết mới này, tác giả dường như muốn cảnh báo chớ coi thường nhãn quan của các Sứ thần. Hãy thận trọng trong bang giao, trước mỗi việc làm, lời nói đều phải xem xét mọi mặt của nó. Đừng đơn giản hóa mà cho rằng lời nói này, sự việc này chỉ có thể nảy ra những suy nghĩ như thế này ở người đối thoại. Không  chỉ có thế, với cái kết mới này, Nguyễn Đoàn muốn khẳng định chất lượng của việc học thật. Chỉ có học thật mới có kiến thức thật sâu sắc để nhìn nhận mọi vấn đề một cách toàn diện thấu đáo. Đồng thời ông còn phê phán thói mua học hàm học vị, thói học rởm của những cử nhân, tiến sĩ giấy nhan nhản ngoài đời. Đặc biệt là qua cái kết mới này ông muốn gửi đến chúng ta một bức thông điệp rằng ở bất kì thời nào, bất kể nơi nào nếu người đứng đầu biết trọng dụng nhân tài thì sẽ  phát triển được. Ngược lại nếu coi thường nhân tài không sử dụng người tài vào đúng công việc mà chỉ sử dụng những người hợp gu , vào phe vào cánh với mình hay những người thiếu năng lực nhưng lại có thừa thói xu nịnh bợ đỡ thì tất sẽ mạt vận, sẽ không thể nào ngóc đầu lên được.
 Nói như anh bạn blog Bulukhin Nguyễn của tôi thì: "Ông Nguyễn Đoàn muốn qua chuyện này đưa đến cho người đọc một thông điệp sâu xa hơn. Chuyện cũ chỉ nói lên tài nghệ văn chương chữ nghĩa của anh lái đò và cô hàng nước người Nam. Chuyện mới làm bật lên cái tệ hại của một chính quyền không biết trọng dụng người tài. Nhưng muốn tạo ra cái mới trên nền cũ này thì người kể phải động não tìm ra cái mới, người nghe phải chối bỏ cách hiểu cũ kỹ sáo mòn. Chính cái não trạng sáo mòn cũ kỉ làm cho một xã hội dẫm chân tại chỗ, không tiến lên được...".  Đúng là chỉ thông qua một câu chuyện rất ngắn nơi bàn nhậu, cuộc trà và bằng lời văn nhỏ nhẹ như không chứ chẳng đao to búa lớn gì chẳng thóa mạ mạt sát một cá nhân cụ thể nào mà Nguyễn Đoàn đã gói vào đó một vấn đề thật lớn của thời thế, thế thời khiến ta càng ngẫm càng thấy sâu sắc biết bao!
                                                    15-01-2016
                                                     Song Thu
.